BẦY TỎ CUỐI NĂM



1-

biết mình ở nơi xa vẫn ngỡ chiều Đà Lạt, dã quỳ vàng sáng mỗi chân dung, cây thông biếc cứ mong mình hoang dã bên lề quốc lộ xuyên Đông Dương, thác xả nước cạn lòng cao nguyên cũ, em có còn tìm tiếng chim non thảng thốt, bụi cỏ nào ẩn dấu nguy cơ. Không ai cấp visa vào vương quốc ngây thơ, anh làm sao về thuở ấy? người lính biên phòng của lãnh địa ý thức giữ anh lại bên này, em vẫy tay xa dần trên chuyến xe vào sâu nội địa của tâm linh, con sóc hồng bay qua rồi ngày mai hồn nhiên quay trở lại, biên giới là nghiệp chướng phận người, con người thích tự xích chân nhau.


2-

nhớ thương nhiều đâu dễ bên nhau, chim hồng hạc khắng khít một đôi, tiếc rằng mình không phải loài có cánh, cánh máy bay chưa hóa thành cánh chim tự do, cánh của cạnh tranh ,cánh của ly tan, cánh của hủy diệt, hạnh phúc của đôi sam biển bao giờ đến được loài người? em bế con chưa thành tượng đá, anh cầm tri thức trên tay làm công cụ khai phá mở đường về lại quê nhà, ai đánh tráo công cụ của anh thành duy lý, nên không chặt dọn được bụi gai tâm tư, ngẩn ngơ kẻ dại khờ.


3-

hàng triệu năm loài người bước đi, vài ngàn năm dọn mãi lối mòn, kỳ tích không phải đền đài thành quách làm bằng xương máu người để lên mặt trăng vẫn nhìn rõ được, bắn rã hạt nhân hay chất vàng thành núi, lối mòn thảm họa kiếp người, kỳ tích là thiên nhiên vô thường, anh ở miền nhiệt đới cùng bán đảo với em, sao đất này là vô thường của oi bức ? Ngôi chùa mát lạnh kỳ diệu dưới bóng rặng thông, giữa mùa đông rừng dã quỳ lợp kín sắc vàng, mười ba cánh vây đài hoa ngây ngất hút say hạt vũ trụ chảy đến từ hàng tỷ năm ánh sáng, tiếng réo gió cao nguyên Paksong nhắn lời về Đà Lạt, vô thường nóng chính là vô thường lạnh! anh lặng thinh bước lên dây vũ trụ, thế giới tâm tiêu vong biên giới, anh về với em không cần passport, công cụ tâm thức xóa tan hòn đá chận đường.


Paksong – Laos, 5.12.2008








© tác giả giữ bản quyền.
. tải đăng ngày 11.12.2008 theo nguyên bản tác giả gởi từ Lào .